Địa chỉ: Văn Lâm-Hưng Yên
Địa chỉ: Thôn giữa-Lạc Đạo-Văn Lâm-Hưng Yên
CSKH:
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VĂN LÂM Một thời để nhớ! Liên hệ:Phụ lục VIVIẾT HOA TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH(Kèm theo Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19 tháng 01 năm 2011 của Bộ Nội vụ)
Ngôn ngữ là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người. Vì vậy, con người luôn luôn quan tâm đến ngôn ngữ và xây dựng cả một khoa học về nó. Đó là ngôn ngữ học.
Ngôn ngữ có từ rất lâu, chậm nhất là vào nửa cuối thế kỉ IV trước Công nguyên. Những tài liệu ngôn ngữ học cổ nhất được tìm thấy ở Ấn Độ, Hi Lạp và Ảrập. Ngôn ngữ học ra đời không phải xuất phát từ những suy nghĩ trừu tượng của các siêu nhân mà xuất phát từ bản thân những yêu cầu trong đời sống của con người.
Thời cổ Ấn Độ, kinh Vệ Đà rất được tôn kính. Ngôn ngữ của kinh Vệ Đà được coi là mẫu mực và không biến đổi. Nhưng ngôn ngữ nói hàng ngày của người Ấn Độ lại biến đổi không ngừng làm cho ngôn ngữ của kinh Vệ Đà bị sai lệch, nhiều từ ngữ thậm chí không hiểu được nữa. Tình hình ấy đã khiến ngôn ngữ học phải nảy sinh trong thời cổ Ấn Độ. Ở Hi Lạp cũng vậy. Ở đây, ngôn ngữ học cũng nảy sinh do nhu cầu bảo toàn và giải thích ngôn ngữ của "Iliad" và "Odyssey". Sau khi ra đời, sự xuất hiện của chữ viết đã thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ học, bởi vì muốn truyền thụ chữ viết từ thế hệ này sang thế hệ khác chẳng những phải hiểu biết bản thân các kí hiệu mà còn phải biết các yếu tố của kết cấu ngôn ngữ do các kí hiệu đó biểu thị.
Ở Ấn Độ việc nghiên cứu ngôn ngữ chủ yếu có tính thực tiễn. Nổi bật trong số cácn hà ngôn ngữ họ cổ Ấn Độ là Panini, sống vào khoảng giữa thế kỉ IV và III trước Công nguyê. Cho đến nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn phải thừa nhận những quan sát tinh tế và kĩ lưỡng, những sự miêu tả chính xác và độc đáo của Panini đối với các hiện tượng ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông đã giúp cho việc nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ họ hàng ở thế kỉ XIX và giúp cho việc hình thành khái niệm về kết cấu hình thái và ngữ âm của ngôn ngữ văn học cổ Ấn Độ.
Ở Hi Lạp, chiều hướng phát triển của ngôn ngữ học ban đầu gắn liền với những tìm tòi về triết học trong các lĩnh vực rộng lớn về tư duy và thực tế. Trong một thời gian dài các nhà triết học cổ Hi Lạp như Platon (Plato, 428–347 trước Công nguyên), Aristôt (Aristotle, 384–322 trước Công nguyên) đã tranh luận về bản chất của từ, mối quan hệ về bản chất của từ với sự vật và tư tưởng. Về sau môn ngữ pháp học đã tách dần ra khỏi áp lực của triết học để trở thành một khoa học độc lập với tên tuổi của các nhà bác học như Aritac, Điônixi, Phơrakixki, Apôloni, Đixcôlơ v.v... Người La Mã cải tiến sơ đồ ngữ pháp của người Hi Lạp và đem áp dụng vào ngôn ngữ của mình. Trong một thời gian dài, các công trình ngữ pháp của người La Mã được coi là mẫu mực, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngữ pháp học thời trung thế kỉ ở Tây Âu.
Tiếp thu những thành tựu ngôn ngữ học của người Ấn Độ và Hi Lạp, người Arập (thế kỉ VII–X) đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của ngôn ngữ học. Người Arập đã miêu tả tỉ mỉ và chính xác về ngữ âm, có những tìm tòi đáng chú ý về cú pháp, đặc biệt là họ có nhiều thành tựu về từ điển học. Theo một số tài liệu, Alơ Phirada Cadi đã soạn một cuốn từ điển gồm 100 tập. Ngoài ra, người Arập còn nghiên cứu cả tiếng địa phương và cả các tiếng nước ngoài nữa.
Đáng tiếc, những thành tựu ngôn ngữ học cổ đại đã không được phát huy trong những thời kì tiếp theo. Hệ giáo lí và triết học kinh viện thời trung thế kỉ đã đè nặng lên khoa học. Vì vậy, suốt thời trung thế kỉ, ngôn ngữ học không tiến lên được bao nhiêu. Mãi tới thời kì Phục hưng, ngôn ngữ học mới dần dần phục hưng trở lại.
Do sự phát triển của ngành hàng hải và thương mại, những phát kiến về địa lí và việc xâm chiếm thuộc địa, việc truyền bá đạo Cơ Đốc ra ngoài phạm vi châu Âu và việc phát minh ra máy in mà những người châu Âu làm quen ngày càng nhiều với các ngôn ngữ mới ở châu Á, châu Phi và châu Mĩ.
Do nhu cầu của thực tế, ngôn ngữ học buộc phải vượt ra ngoài cái sơ đồ hệ thống và các quy tắc của ngữ pháp Latin. Các nhà bác học đã hướng vào việc giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn: biên soạn các cuốn từ điển và ngữ pháp của các ngôn ngữ khác nhau. Đồng thời, việc đối chiếu tài liệu ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của các ngôn ngữ khác nhau cũng được tiến hà
chính tả là s, r, gi, tr. Tức là không phân biệt giữa: s/x, r/d/gi, tr/ch.
1.3. Hệ thống âm cuối
- Số lượng: Có đủ các âm cuối ghi trong chính tả.
- Có 3 cặp âm cuối nằm trong thế phân bố bổ sung là:
+ [-nh, -ch] đứng sau nguyên âm dòng trước: /i, e, ê/;
+ [-ng, -k] đứng sau nguyên âm dòng giữa (hàng sau không tròn môi – theo cách gọi của GS. Đoàn Thiện Thuật): /ư, ơ, â, a/.
+ [-ngm, kp] đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi: /u, ô, o/.
Trong chính tả, đôi phụ âm thứ 3 này không được thể hiện phân biệt với đôi phụ âm thứ 2, mặc dù chúng được phát âm khác nhau (cặp thứ 2 là các âm cuối mở, còn cặp thứ 3 lại là các âm cuối ngậm môi).
1.4. Phương ngữ Bắc lại có thể được chia thành 3 vùng nhỏ hơn:
- Phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nước ta.
Phần lớn người Việt ở khu vực này đều mới đến từ các tỉnh đồng bằng có mật độ cao như Thái Bình, Hà Nam Ninh (cũ). Do quá trình cộng cư xảy ra gần đây nên phương ngữ này phát triển theo hướng thống nhất với ngôn ngữ văn học, mang những nét khái quá chung của phương ngữ Bắc, và không chia manh mún thành nhiều thổ ngữ làng xã như phương ngữ Bắc ở các vùng đồng bằng – cái nôi của người Việt cổ.
- Phương ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh xung quanh (Hà Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Hà Sơn Bình (Hà Tây, Hoà Bình), Hải Hưng (Hải Dương, Hưng Yên), Hải Phòng)
Đây là vùng mang những đặc trưng tiêu biểu của phương ngữ Bắc.
- Phương ngữ miền hạ lưu sông Hồng và ven biển (Thái Bình, Hà Nam Ninh, Quảng Ninh).
Vùng này còn lưu giữ lại cách phát âm khu biệt d với gi,r ; s với x; tr với ch mà các phương ngữ Bắc khác không phân biệt nữa.
2. Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Trung
2.1. Hệ thống thanh điệu
Gồm 5 thanh điệu, khác với hệ thống thanh điệu phương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng.
2.2. Hệ thống phụ âm đầu
- Số lượng: 23 phụ âm.
- Trong số 23 phụ âm trên, hơn phương ngữ Bắc 3 phụ âm uốn lưỡi /ş, z, / (chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr). Trong nhiều thổ ngữ có 2 phụ âm bật hơi [ph, kh] (giống như chữ viết đã ghi lại) thay cho 2 phụ âm xát /f, χ/ trong phương ngữ Bắc.
2.3. Hệ thống âm cuối
Phụ âm /-ŋ, -k/ có thể kết hợp được với nguyên âm ở cả 3 hàng. Tuy vậy, trong những từ chính trị-xã hội mới xuất hiện gần đây vẫn có các cặp âm cuối [-nh, ch] và [-ngm, kp]
2.4. Phương ngữ Trung cũng có thể chia thành 3 phương ngữ nhỏ hơn
Cơ sở của sự phân chia này là sự khác nhau về thành điệu giữa 3 khu vực.
- Phương ngữ Thanh Hoá
+ Lẫn lộn thanh hỏi với thanh ngã (phát âm không phân biệt).
+ Các thanh còn lại giống với phương ngữ Bắc.
- Phương ngữ vùng Nghệ Tĩnh
+ Không phân biệt thanh ngã với thanh nặng.
+ Cả 5 thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ Bắc do có độ trầm lớn hơn.
- Phương ngữ vùng Bình Trị Thiên
+ Không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã.
+ Về mặt điệu tính lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh. Riêng vùng Thừa Thiên-Huế có hệ thống vần và âm cuối giống phương ngữ Nam. Điều này có nguồn gốc lịch sử -xã hội. Vì vậy, do sự pha trộn phương ngữ Trung và phương ngữ Nam trong pưhơng ngữ Thừa Thiên-Huế, nên nó không tiêu biểu cho cả vùng. Tiêu biểu cho phương ngữ Trung là dải phương ngữ từ Nghệ Tĩnh đến sông Bến Hải.
3. Những đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam
3.1. Hệ thống thanh điệu
- Số lượng: 5 thanh.
- Thanh ngã với thanh hỏi trùng làm một.
- Xét về mặt điệu tính thì đây là một hệ thống khác với phương ngữ Trung và phương ngữ Bắc.
3.2. Hệ thống phụ âm đầu
- Số lượng: 23 phụ âm.
- Có các phụ âm uốn lưỡi /ş, z, / (chữ viết ghi là s, r, tr). Ở Nam Bộ, có thể phát âm rung lưỡi [r]. So với các phương ngữ khác, phương ngữ Nam thiếu phụ âm /v/, nhưng lại có thêm âm [w] bù lại; không có âm /z/ và được thay thế bằng âm [j].
3.3. Âm đệm /-w-/ đang biến mất dần trong phương ngữ Nam.
3.4. Phương ngữ Nam cũng mất đi nhiều vần so với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung. Và nó cũng thiếu cặp âm cuối /-ŋ, k/. Trong khi đó, cặp âm cuối [-ngm, kp] lại trở thành những âm vị độc lập.
3.5. Phương ngữ Nam có thể chia thành 3 vùng nhỏ hơn
- Vùng phương ngữ Quảng Nam-Quảng
I. Ngôn ngữ
Kinh Thánh kể về chuyện con cháu nhà Noé định xây một cái tháp để lên thăm lại Vườn Eden - nước Thiên đàng sung sướng ngày xưa; nhưng Chúa đã trừng phạt ý định ngông ngạo đó bằng cách làm lộn xộn tiếng “Esperanto” của Ngài đi để con người không bao giờ có thể thực hiện được ý định đó nữa. (Từ bấy, Tháp Babel đi vào điển tích có nghĩa là lộn xộn, mất trật tự; còn có nghĩa là không tưởng). Thế là con người không còn thông cảm được với nhau và coi đó là sự trừng phạt của Chúa.
Song, ngay cả tiếng Esperanto - ngôn ngữ nhân tạo do Zamenhof đã nghĩ ra vào năm 1887 cũng không cứu vãn được tình trạng “lộn xộn”, “mất trật tự” đó. Mỗi quốc gia, cộng đồng vẫn nói tiếng nói của mình.
“Hiện tượng lẫn lộn tiếng nói diễn ra sau ý đồ xây dựng tháp Babel đánh dấu việc đa dạng hoá ngôn ngữ và do đó, truyền thống nguyên thuỷ cũng trở nên đa dạng. Đó là hệ quả của việc tâm trí con người trở nên tối tăm, khiến cho ngôn ngữ đã chuyển dần từ thống nhất thành đa dạng: đây có lẽ là một quá trình tiến hoá bình thường, chứ không chỉ là sự trừng phạt của Chúa Trời. Mallarmé đã viết: "Các ngôn ngữ đều không hoàn chỉnh vì là có nhiều, mà không có một ngôn ngữ tuyệt đỉnh...”(1).
Trong Tạp chí Người đưa tin, Unesco, số 2/1994, Peter Muhlhausler đã cho rằng: bảo tồn sự đa dạng về ngôn ngữ cũng là cách bảo tồn sự đa dạng về cách thức tri nhận thế giới. Người sử dụng ngôn ngữ nào thì có cách tri nhận thế giới theo ngôn ngữ đó: tiếng xứ Wales đã không phân biệt giữa xanh da trời với xanh lá cây và chỉ gọi gọn là glas “vì trong thực tế họ đã không chú ý tới sự khác nhau đó”.
Ngày nay mỗi dân tộc vẫn coi bản ngữ của mình là đẹp nhất thế giới. Trong người Việt chúng ta cái cảm thức về ngữ nghĩa và âm hưởng cao rộng của hai chữ “bầu trời” rất khác âm vang của từ này cùng nghĩa trong các tiếng Pháp, tiếng Rumani, tiếng Anh (“le ciel”; “cerul”; “the sky”). Đó là tính chất võ đoán (chủ quan) của ngôn ngữ: cùng một sự vật, hiện tượng lại được gọi khác nhau. Câu nói của Hugo: “Có từ như một ánh nhìn, có từ như một nụ cười”(2) là nói đến ngôn ngữ của đồng bào ông mà một người ngoại quốc dẫu rất giỏi tiếng Pháp cũng chưa chắc có được cảm thức đó. Rimbaud còn “thấu thị” được màu sắc ngay cả ở những nguyên âm. Sau này Proust còn cảm nhận được màu sắc, hình thái của những tên riêng (con người, địa lí). Âm vang của từ ngữ mang nghĩa do chính cảm thức, quán tính của cộng đồng.
Ngôn ngữ - “cái sản phẩm xã hội lưu giữ trong óc mỗi người” của mỗi cộng đồng là một “con bài bắt buộc” để các thế hệ sau cứ thế mà sử dụng; và là “sự chấp nhận trong một tập thể”, là “một cái gì người ta phải chịu chứ không phải là một quy tắc tự nguyện” (3). Xin lưu ý: các nhà ngôn ngữ học trên thế giới đều thống nhất: “Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, khẩu ngữ, võ đoán dùng trong các hoạt động giao tiếp của con người” (4). Theo đó, “ngôn ngữ” được hiểu là “lời nói” mà không phải là “chữ viết”.
Lời nói có trước, chữ viết có sau. Tôi coi “chữ” là cái “bóng” của “lời”, như chúng ta phải ra đời rồi mới có cái bóng của mình. “Tử ngữ” là “cái bóng” đã nằm im hay tiếng vang trầm đục vọng tới chúng ta từ một sinh ngữ trong quá khứ. Từ đây, để tránh lầm lẫn giữa “lời” và “chữ”, trong bài viết tôi sẽ thống nhất cách dùng: ngôn ngữ (language - lời nói, tiếng); ngôn từ (language verbal - chữ viết).
Đứa trẻ học nói trước khi học đọc, học viết. Lớn lên nó đi học, biết đọc, biết viết rồi giỏi giang, được coi là người “có chữ”, ngày xưa gọi là người “quân tử”. Kẻ “tiểu nhân” thấy người quân tử từ xa phải vái chào. Quân tử được trọng vọng và được khao khát trong ca dao: “Một đêm quân tử nằm kề/Còn hơn thằng ngọng vỗ về quanh năm" (5). Sự khao khát tinh khiết đó của các cô gái là có lí: ngoài địa vị xã hội, tiền của... người “quân tử” còn nói năng dễ nghe hơn “thằng ngọng” - (đương nhiên, không ai ngây thơ hiểu theo nghĩa đen của từ này). Do áp lực của cặp đối lập “quân tử”/“thằng ngọng” mà ta đã bắt đầu đoán ra được ẩn ý trong câu ca dao trên. Đó là: bằng trực giác, dân gian đã khái quát được con đường đi
| 1. | dấu chấm | . |
| 2. | dấu hỏi | ? |
| 3. | dấu cảm | ! |
| 4. | dấu lửng | … |
| 5. | dấu phẩy | , |
| 6. | dấu chấm phẩy | ; |
| 7. | dấu hai chấm | : |
| 8. | dấu ngang | – |
| 9. | dấu ngoặc đơn | () |
| 10. | dấu ngoặc kép | “ ” |
Dòng sông lào xào vỗ sóng. Gió chạy loạt soạt trong cỏ, trăng đã lên cao, đêm đã khuya lắm.
(Nguyễn Đình Thi)
- Anh ốm, sao lại đi làm?
- Ốm xoàng thôi.
- Chông ai chết trong tố cộng?
- Chồng tôi.
- Con ai chết trong dinh điền?
- Con tôi.
(Tế Hanh)
Văn học nghệ thuật là gì, xưa nay người ta định nghĩa nhiều rồi.
(Phạm Văn Đồng)
Bọn xâm lược Mĩ làm ra vẻ ngạc nhiên. Chúng chối biến rằng chúng không hề biết gì. (?)
(Báo Nhân dân)
Hỡi anh
Người đồng chí quang vinh!
(Sóng Hồng)
Hãy yêu quý thanh niên! Hãy trân trọng và tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ!
(Tạp chí Học tập)
Y còn đòi các nước sản xuất dầu mỏ "hợp tác" với Mĩ để giải quyết cả vấn đề dầu mỏ lẫn vấn đề lương thực (!)
(Báo Nhân dân)AFP đưa tin theo cách ỡm ờ của AFP.
“…họ là 80 người sức lực khá tốt nhưng hơi gầy…” (!?)
(Nguyễn Tuân)
Lũ làng đi rửa tay thật sạch rồi cầm lên từng thứ, coi đi coi lại, coi Bok Hồ đi làm rẫy, coi cái áo Bok Hồ mặc…
(Nguyên Ngọc)
Sâm đè tay lên ngực, hít lấy mấy hơi mới nói được:
- Quên... rút chốt...
(Phan Tứ)
Giơ tay hàng tuốt quân ta
Té ra công sự chỉ là công... toi
(Tú Mỡ)
Ù... ù... ù...
Tầm một lượt
(Võ Huy Tâm)
Mẹ ơi, có khách đấy!
Cuối cùng, Mỹ đã thua to.
Tôi trở về thành phố Hồ Chí Minh, thành phố thân yêu của tôi.
Thong thả, anh ấy bước ra.
Bài hát ấy, tôi nghe nhiều lần.
Lúc ấy Mai cũng về tới bản Đảy.
(Tô Hoài)
Lời trăn trối mang hồn người sắp chết
Vọng qua vách, trang nghiêm và thống nhất.
(Nguyễn Dân Trung)
Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp lâu dài và gian khổ, song nhất định thắng lợi.
(Hồ Chí Minh)
Đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động cần phải xung phong gương mẫu trong sản xuất và công tác.
Hầm chông hố chông trong ruộng lúa tựa như được nước lụt che, thằng giặc chẳng biết đâu mà mò.
(Anh Đức)
Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi.
(Hồ Chí Minh)
Chú Hai đã đi làm phu cao su ở Hớn Quản, lại ra làm thợ mỏ ở Đông Dương vàchú còn đi những chân trời góc bể đâu khác.
(Tô Hoài)Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ.
(Hồ Chí Minh)
Một trong những công việc cần phải thực hiện cấp tốc lúc này, là nâng cao dân trí.
(Hồ Chí Minh)
Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữa đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động. Tre, anh hùng chiến đấu.
(Thép Mới)
Trong lịch sử có hai loại chiến tranh: chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa. Chính nghĩa, những cuộc chiến tranh chống bọn áp bức, bọn xâm lược, giành tự do, độc lập. Phi nghĩa, những cuộc chiến tranh xâm lược hoặc bình định cốt chiếm nước ngoài hoặc cướp tự do, hạnh phúc của một số người.
(Trường Chinh)
Bộ tư lệnh: những lớp tóc hoa râm
Những mái đầu trắng xoá
Vẫn có Bác, ung dung, trông xuống, dịu dàng.
(Tố Hữu)
Chị Thuận nấu cơm cho anh em ăn, làm người chị nuôi tần tảo; chị chăm sóc anh em ốm và bị thương, làm người hộ lí dịu dàng, ân cần...
(Nguyễn Trung Thành)
Sáng tạo là vấn đề rất quan trọng; không sáng tạo không làm cách mạng được
(Lê Duẩn)
Phải thực hiện bằng được chủ trương hoàn chỉnh các hệ thống thuỷ nông; đẩy mạnh tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp; đẩy mạnh cải tạo giống gia súc và cây trồng nhằm thực hiện thâm canh trên toàn bộ diện tích trồng trọt
(Báo Nhân dân)